tiểu cầu cao bất thường
Tình trạng này thường xảy ra đồng thời với một bệnh viêm nhiễm, như yếu tố kích thích sản xuất tiểu cầu (ví dụ như thrombopoietin) tăng rất cao trong phản ứng viêm cấp tính. Tăng số lượng tiểu cầu có thể xảy ra trong bệnh đa hồng cầu nguyên phát (số lượng hồng cầu cao) và tăng thêm một yếu tố nguy cơ biến chứng.
Những bệnh nhân có bất thường nước tiểu không triệu chứng có nguyên nhân từ cầu thận, thường do tổn thương cầu thận ở giai đoạn sớm của một trong những bệnh thận tiến triển hoặc là bệnh thận không tiến triển. Hầu hết các bệnh nhân như vậy có tăng sinh nhẹ tế bào cầu thận, thường chỉ hạn chế ở khoang gian mạch cầu thận.
Nồng độ BUN trong máu và nước tiểu ở người khỏe mạnh bình thường là: Nồng độ BUN = ure trong máu: 2.5 - 8 mmol/l. Nồng độ ure trong nước tiểu: 428 - 714 mmol/ 24 giờ. Chỉ số này tăng cao gặp trong các trường hợp: Tăng chuyển hóa protein: gặp trong đói ăn lâu ngày.
Thuỳ Tiên và dàn mỹ nhân Việt đẹp bất chấp bị chụp lén bằng cam thường nên dù ăn mặc không cầu kỳ, chụp hình bằng camera thường thì mỹ nhân xứ Thanh vẫn xinh đỉnh. Mỗi khi lên giảng đường, cô thường chỉ thoa kem chống nắng, thoa chút son cho tươi tắn nhưng
Theo BS Tình, sốt xuất huyết có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm, trong đó có giảm tiểu cầu, thường xảy ra từ ngày thứ 4-7 của bệnh (giai đoạn nguy hiểm). "Biến chứng giảm tiểu cầu ở bệnh nhân sốt xuất huyết là điều bình thường, tuy nhiên mức tiểu cầu về 0
materi bahasa jawa kelas 10 semester 1 kurikulum merdeka. Bài viết được viết bởi bác sĩ Huyết học - Truyền máu - Khoa Xét nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long. Tiểu cầu Platelets hay Thrombocytes là một trong ba loại tế bào máu. Tiểu cầu là một mảnh tế bào không có nhân, sinh ra từ mẫu tiểu cầu trưởng thành trong tủy xương và được mô tả đầu tiên vào những năm 1800 bởi Bizzozero. Hình 1. Sơ đồ sinh các loại tế bào máu Tiểu cầu có hình dạng giống hình đĩa, đường kính khoảng 2 - 3 μm, dày khoảng 0,5 μm. Màng của tiểu cầu là màng Phospholipid kép có chứa rất nhiều thụ thể bề mặt. Bên trong bào tương có các hạt chứa chất liên quan đến quá trình ngưng tập tiểu cầu và đông cầm máu hình 2. Tiểu cầu chỉ có ở động vật có vú, trong khi các loài động vật khác tiểu cầu tuần hoàn như các tế bào đơn nhân. Hình 2. Sơ đồ cấu tạo tiểu cầu Chú thích áo ngoài. CM màng tế bào. SMF sợi khung xương dưới màng tế bào. vòng vi ống quanh tiểu cầu. và OCS chỗ lõm của màng bào tương từ thành của các kênh thông ra bề mặt tiểu cầu và hệ thống mở. M ti thể. hệ thống ống đặc chứa canxi. Gly hạt glycogen. thể đặc. G hạt sống của tiểu cầu từ 7-10 ngày. Trong cơ thể, cơ quan đảm nhiệm vai trò tiêu hủy các tiểu cầu già là lách. Lách là nơi bắt giữ và tiêu hủy tiểu cầu cũng như các tế bào máu khác trong cơ thể. Những phát triển bất thường của lá lách như lách to có thể làm tăng quá trình giữ và tiêu hủy tiểu cầu, gây giảm số lượng tiểu cầu trong máu ngoại vi. Do vậy trong nhiều trường hợp giảm tiểu cầu nghiêm trọng, bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật cắt lách nhằm giảm quá trình tiêu hủy tiểu cầu. 2. Tiểu cầu có chức năng gì? Tiểu cầu đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình bao gồm đông cầm máu, tạo cục máu đông, co cục máu đông, co mạch và sửa chữa, miễn dịch, viêm, xơ vữa động năng chính của tiểu cầu là cầm máu, tức là quá trình dừng chảy máu tại nơi nội mạc mạch máu thành trong của mạch máu hay mạch bạch huyết bị thương. Khi đó tiểu cầu tập trung tại vết thương sẽ bịt lỗ này lại trừ khi lỗ hổng quá lớn. Lúc này các tiểu cầu phải trải qua giai đoạn hoạt hóa để phóng thích chất trong các hạt chức năng và biến đổi hình dạng để kết dính lại với nhau tạo nút tiểu cầu và cục máu đông. Nếu thương tổn ở mạch máu là nhỏ thì bản thân nút chặn có thể làm ngừng chảy máu. Nhưng nếu thương tổn lớn hơn thì phải nhờ thêm sự hình thành cục máu trình có 3 giai đoạnKết dính tiểu cầu Khi thành mạch bị tổn thương, lớp collagen nằm bên dưới tế bào nội mạc mạch máu được bộc lộ. Tiểu cầu sẽ đến dính vào lớp collagen cầu giải phóng các yếu tố hoạt động Sau khi tiểu cầu kết dính với collagen, nó được hoạt hoá. Tế bào này phình to ra, thò các chân giả và giải phóng nhiều chất. Trong đó có một lượng lớn ADP, Thromboxane tập tiểu cầu ADP và thromboxane A2 hoạt hoá các Tiểu cầu ở gần. Hoạt hóa làm chúng có khả năng dính vào lớp Tiểu cầu ban đầu gọi là ngưng tập tiểu cầu. Rồi lớp tiểu cầu đến sau này lại giải phóng các chất hoạt động làm hoạt hoá và dính thêm lớp Tiểu cầu khác. Cứ như vậy, các lớp tế bào Tiểu cầu đến dính vào chỗ tổn thương càng lúc càng nhiều tạo nên nút Tiểu cầu. Hình 3. Sơ đồ tạo nút tiểu cầu Sự hình thành các “nút tiểu cầu" này sự cầm máu sơ cấp thường kết hợp với sự cầm máu thứ cấp bằng sợi huyết fibrin tổng ra, Tiểu cầu còn giúp cho thành mạch trở nên dẻo dai, mềm mại. Tác dụng này nhờ chức năng làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc của các tế bào này. 3. Tăng hay giảm tiểu cầu có tác hại gì? Số lượng tiểu cầu thông thường là 150 - 450 G/L máu toàn phần. Số lượng tiểu cầu lớn hơn khoảng này gọi là tăng tiểu cầu thrombocytosis; ít hơn 150 G/L được gọi là giảm tiểu cầu thrombocytopenia. Số lượng tiểu cầu bình thường của mỗi người sẽ khác nhau và sẽ có sự thay đổi tùy theo trạng thái tâm lý của từng người, giới tính, độ tuổi, chủng tộc và đặc biệt là thiết bị làm xét lượng tiểu cầu quá thấp giảm tiểu cầu nặng có thể gây ra chảy máu. Còn số lượng tiểu cầu quá cao tăng tiểu cầu sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu có thể gây nên đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu...Tăng tiểu cầu gặp trong Rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách, các bệnh viêm...Giảm tiểu cầu gặp trong Ức chế hoặc thay thế tủy xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh ... 4. Các rối loạn về tiểu cầu hay gặp Tăng tiểu cầu tiên phátTăng tiểu cầu tiên phát là rối loạn tăng sinh tủy mạn tính, đặc điểm là số lượng tiểu cầu tăng cao, tăng sinh mẫu tiểu cầu, và xu hướng xuất huyết hoặc huyết khối, với các dấu hiệu như Yếu, đau đầu, dị cảm đầu chi, chảy máu, lách to, và hồng ban với thiếu máu cục bộ. Chẩn đoán dựa trên số lượng tiểu cầu > 450 G/L kéo dài, không có xơ tủy hoặc nhiễm sắc thể Philadelphia hoặc BCR-ABL, hoặc bất kỳ rối loạn nào khác mà gây tăng tiểu tiểu cầu thứ phátTăng Tiểu cầu thứ phát phổ biến hơn, không phải do tủy xương, mà là một bệnh hoặc tình trạng khác kích thích tủy xương tạo ra nhiều Tiểu cầu hơn. Nguyên nhân có thể do nhiễm trùng, viêm, một số loại ung thư và phản ứng với thuốc... Các triệu chứng thường không nghiêm trọng. Số lượng Tiểu cầu trở lại bình thường khi tình trạng khác trở nên tốt loạn chức năng tiểu cầuRối loạn chức năng tiểu cầu là tình trạng tiểu cầu không hoạt động như bình thường, gây nên chảy máu hoặc bầm tím trên da, trong khi số lượng bình thường. Tiểu cầu có nhiều vai trò trong đông máu, rối loạn chức năng tiểu cầu có thể dẫn tới rối loạn đông máu ở những mức độ khác loạn chức năng có thể là do di truyền hoặc mắc phải. Các rối loạn chức năng tiểu cầu di truyền bao gồm bệnh von Willebrand là bệnh xuất huyết di truyền phổ biến nhất và rối loạn nội tại tiểu cầu di truyền ít phổ biến hơn. Các rối loạn chức năng tiểu cầu mắc phải thường do các bệnh ví dụ như suy thận cũng như sử dụng aspirin và các thuốc khác...Giảm tiểu cầu Nguyên nhân giảm tiểu cầu có thể doSản xuất tiểu cầu giảm,Tăng giữ tiểu cầu trong lách, với đời sống tiểu cầu bình thường,Tăng phá hủy hoặc tiêu thụ tiểu cầu nguyên nhân miễn dịch hoặc không miễn dịch, pha loãng tiểu tiểu cầu trong thai kỳGiảm tiểu cầu do thuốc do phá hủy tiểu cầu qua trung gian miễn dịch thông thường, heparin, trimethoprim/sulfamethoxazole, hiếm khi hơn là quinineGiảm tiểu cầu do thuốc gây ra do thuốc ức chế tủy xương phụ thuộc liều lượng ví dụ hóa trị liệuGiảm tiểu cầu kèm theo nhiễm trùng,Giảm tiểu cầu miễn dịch ITP, trước đây được gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch... 5. Giảm tiểu cầu có nguy hiểm không? Chức năng cơ bản của tiểu cầu là tham gia quá trình cầm máu, đông máu nhằm bảo vệ cơ thể khỏi sự mất máu. Bởi vậy, giảm tiểu cầu nặng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Khi số lượng tiểu cầu quá thấp, cơ thể người bệnh sẽ có thể bị xuất huyết tự nhiên hoặc xuất huyết khi va chạm rất nhẹ. Các trường hợp xuất huyết nặng bao gồm Xuất huyết tiêu hóa nôn ra máu, xuất huyết đường tiết niệu đái máu, xuất huyết não màng não tai biến...Các dấu hiệu của giảm tiểu cầuKhi tiểu cầu giảm, dấu hiệu chính là xuất huyết. Tùy mức độ tiểu cầu giảm mà biểu hiện của xuất huyết khác nhauXuất huyết dưới da Biểu hiện là các chấm, nốt nhỏ bầm tím hoặc các mảng bầm tím...Xuất huyết niêm mạc mắt, mũi, chảy máu răng miệng;Xuất huyết nội tạng Biểu hiện là bệnh nhân tiểu ra máu, đi ngoài ra máu, nôn ra máu....Ở phụ nữ có thể kinh nguyệt nhiều, kéo dài, băng chứng nặng nhất của xuất huyết là xuất huyết não bệnh nhân đau đầu, buồn nôn hoặc có các triệu chứng thần kinh khu trú. 5. Khi nào thì cần xét nghiệm Tiểu cầu Tiểu cầu là những tế bào nhỏ nhưng quan trọng trong máu giúp cơ thể kiểm soát chảy máu. Nếu có các triệu chứng như dễ bị bầm tím trên cơ thể, vết thương chảy máu không cầm được hoặc chảy máu mũi, máu lợi thường xuyên, rong kinh ... cần đến khám bác sĩ sớm để được tư vấn và xét nghiệm. Xét nghiệm máu thường quy là xét nghiệm đơn giản và phổ biến giúp kiểm tra số lượng tiểu cầu có bình thường có nhu cầu tư vấn và thăm khám tại các Bệnh viện Vinmec thuộc hệ thống Y tế trên toàn quốc, Quý khách vui lòng đặt lịch trên website để được phục vụ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Tài liệu tham khảo2/ Nguyễn Công Khanh 2004. Huyết học Lâm sàng Nhi khoa. Nhà xuấy bản Y Đỗ Trung Phấn 2003. Bệnh lý tế bào nguồn tạo máu. Nhà xuấy bản Y Bộ môn Huyết học-Truyền máu, đại học Y Hà nội 2014. Bài giảng Huyết học-Truyền máu Sau đại học. Nhà xuất bản Y XEM THÊM Bị sốt xuất huyết, tiểu cầu giảm 17000 có cần truyền tiểu cầu không? Trường hợp nào mới nên truyền? Cây sơn thù du có tác dụng gì? Tiểu cầu sụt xuống 36 có liên quan hay bị ung thư máu không?
Bệnh tăng tiểu cầu cơ bản ET là một loại ung thư tăng sinh tủy được đặc trưng bởi sự gia tăng số lượng tiểu cầu, tăng sản megakaryocytic và xu hướng co thắt mạch xuất huyết hoặc huyết khối. Các triệu chứng và dấu hiệu có thể bao gồm nhức đầu đau nửa đầu thể mắt, dị cảm, chảy máu, đỏ đau đầu chi hoặc thiếu máu cục bộ ở ngón. Chẩn đoán dựa trên số lượng tiểu cầu > > × 109/L được phân lập, số lượng hồng cầu hoặc hematocrit bình thường với sắt dự trữ thích hợp, không có xơ tủy, nhiễm sắc thể Philadelphia hoặc BCR-ABL, hoặc rối loạn phản ứng gây tăng tiểu cầu. Không cần điều trị ở hầu hết các bệnh nhân không có triệu chứng. Sự hiện diện của tăng tiểu cầu cực độ số lượng tiểu cầu> mcL [> 1,500,000 × 109/L] có thể làm tăng nguy cơ chảy máu. Không có mối tương quan giữa số lượng tiểu cầu và nguy cơ huyết khối mạch máu lớn. Tăng tiểu cầu tiên phát ET là một rối loạn tế bào gốc tạo máu sinh làm tăng sản xuất. Tăng tiểu cầu nguyên phát thường xảy ra với tỷ lệ mắc tăng sau 50 tuổi. Khoảng 50% bệnh nhân có đột biến enzyme Janus kinase 2 JAK2, JAK2V617F, JAK2 là thành viên của họ enzyme tyrosine kinase và tham gia vào việc truyền dẫn tín hiệu cho erythropoietin, thrombopoietin và yếu tố kích thích tạo thành cụm hạt G-CSF. Các bệnh nhân khác có đột biến trong exon 9 của gen calreticulin CALR và một vài người có đột biến gen thụ thể thrombopoietin MPL mắc phải. Tăng tiểu cầu có thể dẫn đến Tắc mạch vi mạchHuyết khối mạch máu lớn Chảy máu Triệu chứng và dấu hiệu của tăng tiểu cầu tiên phát Các triệu chứng thông thường là Bầm tím và chảy máuĐau nửa đầu ảnh hưởng đến mắtDị cảm bàn tay và bàn chân đỏ đau đầu chiCác tổn thương thần kinh Chảy máu thường nhẹ, hiếm khi tự phát và biểu hiện như chảy máu cam, dễ bầm tím hoặc chảy máu đường tiêu hóa. Tuy nhiên, xuất huyết nghiêm trọng có thể xảy ra trong một tỷ lệ nhỏ các trường hợp bị tăng tiểu cầu cực kỳ nghiêm trọng. Ban đau dưới da da bỏng rát ở bàn tay và bàn chân với ban đỏ sờ thấy ấm, và đôi khi thiếu máu cục bộ có thể xảy ra. Các cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua gây ra thiếu hụt thần kinh tùy thuộc vào phần nào của não bị ảnh có thể sờ thấy nhưng lách to đáng kể là không bình thường và nên gợi ý một bệnh lý tăng sinh tủy. Công thức máu CBC và tiêu bản máu ngoại viLoại trừ các nguyên nhân gây tăng tiểu cầu thứ phát và các ung thư tăng sinh tủy khácXét nghiệm di truyềnĐột biến JAK2 và, nếu âm tính, phân tích đột biến CALR hoặc MPLHiếm khi chọc hút và sinh thiết tủy xương. Số lượng tiểu cầu > > × 109/L, nhưng có thể > > × 109/L. Số lượng tiểu cầu có thể giảm trong thai kỳ. Trên tiêu bản máu ngoại vi có thể thấy các tiểu cầu khổng lồ và các mảnh tế bào mẫu tiểu cầu. Nếu nghi ngờ tăng tiểu cầu thiết yếu, nên đo công thức máu CBC, phết máu ngoại vi và nghiên cứu sắt. Gợi ý chẩn đoán tăng tiểu cầu nguyên phát bằng các chỉ số bình thường về hematocrit, số lượng bạch cầu, thể tích trung bình cơ thể MCV và xét nghiệm sắt, cũng như không có sự chuyển vị hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới sinh thiết tủy xương với tăng số lượng các mẫu tiểu cầu lớn, trưởng thành là cần thiết để chẩn đoán tăng tiểu cầu nguyên phát nhưng tiêu chuẩn này chưa bao giờ được xác nhận về mặt tiền cứu, và xét nghiệm tủy sẽ không phân biệt được bệnh tăng tiểu cầu cơ bản với bệnh đa hồng cầu. Gánh nặng alen thường > 50% ở bệnh đa hồng cầu và bệnh xơ tủy nguyên phát. Tuổi thọ bình thường. Mặc dù các triệu chứng là phổ biến, quá trình diễn biến của bệnh thường lành tính. Các biến chứng huyết khối động mạch tĩnh nghiêm trọng rất hiếm nhưng có thể đe dọa tính mạng. Tỷ lệ chuyển lơ xê mi 60 tuổi và không có đột biến Jak2, aspirin 81 mg uống một lần mỗi ngày thường là đủ, nhưng có thể dùng liều cao hơn có thể được sử dụng nếu cần thiết. Nếu đau nửa đầu nặng có thể sử dụng thuốc hạ tiểu cầu. Công dụng của aspirin trong thai kỳ chưa được chứng minh và có thể gây ra chảy máu ở bệnh nhân tăng tiểu cầu đột biến CALR. Phụ nữ bị tăng tiểu cầu thiết yếu được cho là có tỷ lệ chết thai trong ba tháng đầu của thai kỳ cao hơn. Những bệnh nhân không có triệu chứng sử dụng thuốc lá hoặc mắc bệnh tim mạch hoặc các yếu tố nguy cơ tim mạch cũng được điều trị bằng aspirin. Việc sử dụng aspirin để dự phòng tim mạch trong trường hợp không có bệnh tim mạch hoặc các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân > 65 tuổi có liên quan đến một tỷ lệ bị tác dụng bất lợi không thể chấp nhận được. Trái ngược với một số tài liệu đã xuất bản, không có bằng chứng nào cho thấy bệnh nhân không có triệu chứng > 65 tuổi bị tăng tiểu cầu được hưởng lợi từ liệu pháp aspirin. Acid Aminocaproic có hiệu quả trong việc kiểm soát xuất huyết do giảm von Willebrand mắc phải khi thực hiện các thủ thuật nhỏ như nhổ răng. Các phẫu thuật lớn có thể cần điều chỉnh số lượng tiểu ức chế JAK-2 như ruxolitinib có thể có hiệu quả để điều trị chứng tăng tiểu cầu nguyên phát. Vì tiên lượng thường là tốt, vì có thể độc hại nên thuốc giảm tiểu cầu không nên được sử dụng để bình thường hóa số lượng tiểu cầu ở bệnh nhân không triệu chứng. Chỉ định dừng thuốc Các yếu tố nguy cơ tim mạchThiếu máu não thoáng quavà đột quiSử dụng thuốc láChảy máu đáng kểKhi cần phẫu thuật ở những bệnh nhân có tăng quá mạnh tiểu cầu và giảm ngưng tập với ristocetin Đôi khi đau nửa đầu nặng Tuy nhiên, không có dữ liệu chứng minh liệu pháp gây độc tế bào có thể giảm nguy cơ huyết khôi hoặc cải thiện thời gian sống. Thuốc dùng để hạ tiểu cầu bao gồm anagrelide, interferon alfa-2b, và hydroxyurea. Hydroxyurea thường được coi là loại thuốc được lựa chọn để sử dụng trong ngắn hạn nhưng không có lợi ích và gây độc cho tủy khi sử dụng lâu dài. Do anagrelide và hydroxyurea đi qua nhau thai nên chúng không được sử dụng trong thai kỳ; interferon alfa-2b có thể được sử dụng ở phụ nữ mang thai khi cần thiết. Interferon là liệu pháp an toàn nhất cho chứng đau nửa đầu khi các loại thuốc trị đau nửa đầu chuyên dụng không có hiệu quả. Anagrelide nên được sử dụng thận trọng cho bệnh nhân lớn tuổi vì tác dụng của thuốc đối với hệ tim mạch ví dụ như đánh trống ngực, loạn nhịp tim và thận ví dụ, ứ dịch, suy thận.Hydroxyurea nên được chỉ định bởi các chuyên gia quen thuộc với việc sử dụng và theo dõi. Thuốc bắt đầu với liều từ 500 đến 1000 mg uống một lần/ngày. Bệnh nhân được theo dõi công thức máu hàng tuần. Nếu số lượng bạch cầu xuống < 4000/mcL < 4 × 109/L, cần ngưng hydroxyurea và tiếp tục ở mức 50% liều khi giá trị này trở về bình thường. Khi đạt được trạng thái ổn định, cần theo dõi công thức máu 2 tuần 1 lần, và sau đó là 4 tuần 1 lần. Mục đích là làm giảm các triệu chứng hơn là bình thường hóa số lượng tiểu cầu. Việc ngừng hydroxyurea quá nhanh có thể dẫn đến sự hồi phục nhanh chóng và chu kỳ tiểu số nghiên cứu đã gợi ý rằng ruxolitinib, một loại thuốc được sử dụng trong bệnh đa hồng cầu và bệnh xơ tủy nguyên phát, có thể hữu ích ở những bệnh nhân tăng tiểu cầu cơ bản kháng lại các phương pháp điều trị tách tiểu cầu được sử dụng ở những bệnh nhân xuất huyết trầm trọng hoặc huyết khối tái diễn hoặc trước khi phẫu thuật với mục đích để giảm tiểu cầu ngay lập tức. Tuy nhiên, gạn tách tiểu cầu ít khi cần thiết. Tác dụng của nó là tạm thời với sự hồi phục nhanh chóng trong số lượng tiểu cầu. Hydroxyurea hoặc anagrelide không có hiệu quả tức thời nhưng nên được bắt đầu sử dụng vào cùng thời điểm với gạn tách tiểu cầu. ET là một bất thường dòng của tế bào gốc tạo máu vạn năng dẫn đến tăng tiểu nhân có nguy cơ huyết khối vi mạch và xuất là chẩn đoán loại trừ; đặc biệt là các rối loạn tăng sinh tủy do ung thư và tăng tiểu cầu phản ứng thứ phát cần được loại nhân không có triệu chứng không cần điều trị. Aspirin thường có hiệu quả đối với các biến cố vi mạc đau nửa đầu, hồng ban đỏ đau và các cơn thiếu máu cục bộ. Một số bệnh nhân bị tăng tiểu cầu quá mức cần điều trị tích cực hơn để kiểm soát số lượng tiểu cầu; các biện pháp đó bao gồm interferon alpha, hydroxyurea, anagrelide và tiểu cầu.
Sự hủy hoại tiểu cầu có thể phát sinh do các nguyên nhân miễn dịch nhiễm virut, thuốc, rối loạn mô liên kết hoặc rối loạn tăng sinh lym pho, truyền máu hoặc các nguyên nhân không miễn dịch sepsis, hội chứng suy hô hấp cấp. Các biểu hiện là chấm xuất huyết, ban xuất huyết, và chảy máu niêm mạc. Các xét nghiệm phụ thuộc nguyên nhân. Bênh sử có thể là gợi ý duy nhất của chẩn đoán. Điều trị bệnh chính. Các loại thuốc thường sử dụng thỉnh thoảng gây giảm tiểu cầu bao gồm CarbamazepineChlorpropamideChất ức chế Glycoprotein IIb/IIIa ví dụ, abciximab, eptifibatide, tirofibanHeparinHydrochlorothiazideQuinineRanitidinRifampinTrimethoprim/sulfamethoxazoleVancomycinNgoại trừ heparin, giảm tiểu cầu do thuốc thường xảy ra khi thuốc liên kết với tiểu cầu hoặc protein mang tạo ra một kháng nguyên mới và “lạ”, gây ra phản ứng miễn dịch. Rối loạn này không thể phân biệt được với ITP ngoại trừ lịch sử dùng thuốc. Khi ngừng thuốc, số lượng tiểu cầu bắt đầu tăng trong vòng 1-2 ngày và bình thường trở lại bình thường trong vòng 7 ngày. Nên ngừng heparin ngay lập tức ở bất kỳ bệnh nhân nào bị giảm tiểu cầu và hình thành huyết khối mới hoặc có số lượng tiểu cầu giảm hơn 50% trong khi chờ kết quả của các xét nghiệm được thực hiện để phát hiện kháng thể với heparin gắn kết với yếu tố 4 tiểu cầu. Chống đông máu bằng thuốc chống đông máu nonheparin ví dụ, argatroban, bivalirudin, fondaparinux nên được thay thế ít nhất cho đến khi phục hồi tiểu trọng lượng phân tử thấp LMWH ít gây miễn dịch hơn heparin không phân đoạn, nhưng không thể dùng để chống đông cho bệnh nhân giảm tiểu cầu do heparin vì hầu hết các kháng thể HIT đều phản ứng chéo với LMWH. Fondaparinux là lựa chọn thay thế có thể chấp nhận được ở nhiều bệnh nhân nhưng do thời gian bán thải kéo dài 17 giờ, không thích hợp ở những bệnh nhân có thể sớm cần đến thủ thuật hoặc có nguy cơ chảy máu cao. Không được thay warfarin sang heparin ở những bệnh nhân bị giảm tiểu cầu do heparin và nếu phải dùng kháng đông lâu dài. Warfarin chỉ nên bắt đầu sau khi số lượng tiểu cầu đã hồi phục. Nhiễm trùng khác, chẳng hạn như nhiễm virus toàn thân ví dụ, vi-rút Epstein-Barr Tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn Bệnh bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn do siêu vi khuẩn Epstein-Barr EBV, vi rút herpes type 4 và có đặc điểm là mệt mỏi, sốt, viêm họng, và hạch to. Mệt mỏi có thể kéo dài hàng tuần hoặc hàng... đọc thêm , cytomegalovirus Nhiễm Cytomegalovirus CMV Cytomegalovirus CMV, vi rút herpes người type 5 có thể gây nhiễm trùng có nhiều mức độ nghiêm trọng. Hội chứng tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn nhưng không kèm viêm họng nghiêm trọng thì... đọc thêm , nhiễm rickettsia ví dụ, sốt ve Sốt phát ban Rocky Mountain RMSF đọc thêm , và sepsis vi khuẩn, thường có liên quan đến giảm tiểu cầu. Kích hoạt bổ thểSự lắng đọng các tiểu cầu trên bề mặt nội mạc bị tổn thươngHình thành các phức hợp miễn dịchPlatelet apoptosisLoại bỏ axit sialic trên bề mặt tiểu cầu, dẫn đến tăng thanh thải tiểu cầu qua trung gian gan nhờ thụ thể Ashwell-Morell ở tế bào gan hoặc thụ thể CLEC4F ở tế bào Kupffer
HỏiChào bác sĩ. Hôm trước, em có thực hiện xét nghiệm máu và nhận được kết quả máu bị nhiễm khuẩn và bạch cầu với tiểu cầu cao. Vậy em có bị làm sao không ạ?Em xin cám ơn bác sĩ!Nguyễn Thị Hương 1990Trả lờiChào bạn!Có nhiều nguyên nhân bệnh lý gây kết quả xét nghiệm số lượng bạch cầu và tiểu cầu cao đồng thời, bác sĩ lâm sàng sẽ chẩn đoán bạn mắc bệnh gì dựa vào triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm chuyên sâuHội chứng tăng sinh tủy mạn tính lơ xê mi kinh dòng hạt, tăng tiểu cầu tiên phát...Tăng tiểu cầu thứ phát sau viêm hoặc nhiễm trùng cấp theo mô tả sơ bộ của bạn, bác sĩ chưa có đủ thông tin về mức độ tăng bạch cầu và tiểu cầu của bạn như thế nào, có triệu chứng lâm sàng gì kèm theo khi làm xét nghiệm máu hay không? Chính vì vậy bạn cần phải đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để tìm nguyên nhân của xét nghiệm tăng số lượng bạch cầu và tiểu ơn bạn đã đặt câu hỏi tới Hệ thống Y tế Vinmec. Trân sĩ, Bác sĩ Phạm Thị Thùy Nhung - Phó Trưởng khoa Xét nghiệm - Khoa Xét nghiệm - Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng.
Tiểu cầu là các tế bào máu trong huyết tương, chịu trách nhiệm cầm máu bằng cách dính chặt vào nhau để hình thành cục máu đông. Thông thường, số lượng tế bào máu này dao động từ – trong mỗi microlit máu. Nếu con số này vượt quá bạn sẽ được chẩn đoán mắc bệnh tăng tiểu cầu tiểu cầu cao hoặc đa tiểu cầu. Tiểu cầu cao có nguy hiểm không? Số lượng tiểu cầu tăng cao đến một mức nhất định sẽ kéo theo nhiều hệ lụy phát sinh, bao gồm đột quỵ, đau tim hoặc có huyết khối trong mạch máu. Tìm hiểu về căn bệnh này có thể giúp bạn chủ động hơn trong việc điều trị cũng như ngăn ngừa biến chứng. Tìm hiểu chung Tiểu cầu tăng là bệnh gì? Số lượng tiểu cầu cao được gọi là bệnh tăng tiểu cầu, tiểu cầu cao hoặc đa tiểu cầu. Tiểu cầu tăng là bệnh gì? Tình trạng này có hai dạng chính gồm Tăng tiểu cầu nguyên phát liên quan đến rối loạn tủy xương, khiến số lượng tiểu cầu sinh ra quá nhiều. Tăng tiểu cầu thứ phát có thể xảy ra do một số vấn đề sức khỏe như Thiếu máu do thiếu sắt Ung thư Viêm hoặc nhiễm trùng Phẫu thuật, đặc biệt là cắt lách Triệu chứng Những dấu hiệu và triệu chứng bệnh tăng tiểu cầu là gì? Tiểu cầu cao hiếm khi gây ra các triệu chứng đặc trưng rõ rệt. Các biểu hiện thường gặp bao gồm Nhức đầu Chóng mặt hoặc choáng váng Đau ngực Yếu Ngất Thay đổi thị lực Tê hoặc ngứa ran bàn tay và bàn chân Bạn có thể gặp các triệu chứng tiểu cầu tăng cao khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Khi nào bạn cần gặp bác sĩ? Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa mỗi người là khác nhau, vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn được phương án thích hợp nhất. Nguyên nhân Nguyên nhân tăng tiểu cầu Với trường hợp tăng tiểu cầu nguyên phát liên quan đến rối loạn tủy xương, nguyên nhân đứng sau vẫn còn là ẩn số. Mặc dù các chuyên gia đã phát hiện một số gene bị đột biến trong máu hoặc tủy xương của người bệnh nhưng tình trạng này không được xếp vào bệnh có yếu tố di truyền. Tiểu cầu tăng trong trường hợp nào? Trong trường hợp tăng tiểu cầu thứ phát, nguyên nhân khiến số lượng tiểu cầu quá cao có thể đến từ những vấn đề sau Xuất huyết cấp tính và mất máu Phản ứng dị ứng Ung thư Suy thận mạn hoặc rối loạn thận khác Tập thể dục Đau tim Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành Nhiễm trùng, bao gồm bệnh lao Thiếu sắt Thiếu vitamin Cắt lách Thiếu máu tán huyết – một loại thiếu máu mà cơ thể phá hủy các tế bào hồng cầu nhanh hơn so với việc sản xuất ra chúng, thường do một số bệnh về máu hoặc rối loạn tự miễn dịch Viêm như viêm khớp dạng thấp, bệnh celiac, rối loạn mô liên kết hoặc bệnh viêm đường ruột Các phẫu thuật lớn Viêm tụy Chấn thương Bỏng Tập thể dục Tiểu cầu tăng khi nào? Đó là khi dùng thuốc. Tác dụng phụ của một số thuốc điều trị dưới đây cũng sẽ góp phần dẫn đến tình trạng tăng tiểu cầu Epinephrine AUVI-Q, EpiPen, những biệt dược khác Tretinoin Retin-A, Renova, những biệt dược khác Vincristine Sulfate Marqibo Kit Heparin sodium Nguyên nhân tăng tiểu cầu ở trẻ em Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân tăng tiểu cầu ở trẻ em thường là do quá trình phản ứng với các yếu tố nhiễm trùng, viêm mãn tính, thiếu sắt, tổn thương mô, tác dụng phụ của một số loại thuốc hoặc phẫu thuật. Nếu lo sợ không biết tăng tiểu cầu có phải là ung thư máu thì bệnh nhân cần được thăm khám chuyên khoa để xác định nguyên nhân chính xác gây tiểu cầu cao ở trẻ em. Chẩn đoán và điều trị Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ. Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán tiểu cầu cao? Tìm kiếm các tình trạng cơ bản như thiếu máu do thiếu sắt, ung thư hoặc nhiễm trùng có thể giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh. Nếu không xác định được nguyên nhân thứ phát, bệnh nhân được coi là bị tăng tiểu cầu nguyên phát. Một xét nghiệm máu để tìm gene JAK2 có thể chẩn đoán đa tiểu cầu. Tuy nhiên, chỉ khoảng 50% trường hợp người bệnh có loại gene này. Ngoài ra, một số dạng đột biến gene khác cũng có thể được tiến hành nhưng tỷ lệ chẩn đoán không cao. Mặt khác, đôi khi bác sĩ sẽ yêu cầu người bệnh làm thêm sinh thiết tủy xương. Những phương pháp nào dùng để điều trị tăng tiểu cầu? Điều trị tăng tiểu cầu phản ứng dựa vào các nguyên nhân cơ bản. Nếu nguyên nhân là một phẫu thuật gần đây hoặc một chấn thương gây ra mất máu đáng kể, số lượng tiểu cầu tăng cao có thể không kéo dài. Nếu nguyên nhân là nhiễm trùng mãn tính hoặc các bệnh viêm nhiễm, số lượng tiểu cầu có thể cao cho đến khi tình trạng này được kiểm soát. Trong hầu hết các trường hợp, số lượng tiểu cầu sẽ trở lại bình thường sau khi nguyên nhân cơ bản được giải quyết. Phòng ngừa Những biện pháp nào giúp bạn ngăn ngừa tình trạng tăng tiểu cầu? Lối sống và các biện pháp khắc phục tại nhà sau có thể giúp bạn đối phó với tình trạng tiểu cầu tăng quá cao Ăn các thực phẩm lành mạnh. Chọn một chế độ ăn đa dạng giàu ngũ cốc, rau và trái cây và ít chất béo bão hòa. Cố gắng tránh chất béo chuyển hóa. Tìm hiểu về việc kiểm soát khẩu phần ăn để duy trì trọng lượng bình thường. Tăng hoạt động thể chất. Hãy dành ít nhất 30 phút hoạt động thể chất vừa phải mỗi ngày, như đi bộ nhanh hàng ngày, đi xe đạp hoặc bơi vài vòng. Đạt được hoặc duy trì trọng lượng bình thường. Thừa cân hoặc béo phì làm tăng áp lực tĩnh mạch ở xương chậu và chân. Đây là một yếu tố nguy cơ đối với các tình trạng như huyết áp cao. Bỏ thuốc lá. Nếu bạn hút thuốc, hãy thực hiện các bước để cố gắng ngừng hút thuốc. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến bệnh lý tăng tiểu cầu, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.
tiểu cầu cao bất thường