tiểu luận về nền văn minh trung quốc

Trước những diễn biến căng thẳng trên Biển Đông, nhất là mối đe dọa từ phía Trung Quốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng không chỉ đối với lịch sử dân tộc, mà còn là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc và đất nước ta phát triển bền vững. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Trần Thị Đào Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa vào xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay Luận văn ThS. Triết học: 60.22.80 Nghd. : TS. Nguyễn Hàm Giá Đệ Tam Quốc Tế có bảy mục đích và lý luận chính được tóm tắt như sau: (1) Giai đoạn hiện nay là giai đoạn phân hủy và sụp đổ của toàn bộ hệ thống tư bản thế giới, và sẽ là giai đoạn sụp đổ của nền văn minh châu Âu nói chung nếu chủ nghĩa tư bản với những mâu thuẫn không thể vượt qua của nó. Top 1: Đề Tài Luận Văn Tiếng Trung, Category - Bboomersbar.com Top 2: Luận Văn Tốt Nghiệp Tiếng Trung - Tìm Văn Bản Top 3: DANH MỤC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - LUẬN VĂN - LUẬN ÁN Top 4: Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp tiếng trung nghiên cứu câu chữ bei trong … Top 5: DANH SÁCH SINH VIÊN VIẾT LUẬN VĂN KHỐI T08 - HANU Qua đó, ông giải thích tại sao Tây Âu, chứ không phải các nền văn minh khác trong thế giới Á - Âu như Trung Quốc, lại trở thành các thế lực thống trị. Mục đích của cuốn sách này là cung cấp một lược sử về tất cả mọi người trong khoảng 13.000 năm trở lại đây. materi bahasa jawa kelas 10 semester 1 kurikulum merdeka. Ngày đăng 23/04/2015, 1129 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬ BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN BỘ MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI ĐỀ TÀI NỀN VĂN MINH CỔ TRUNG ĐẠI ÊN ĐỘ CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU Họ và tên Nguyễn Thị Dung Líp cao học K17 Thầy giáo hướng dẫn Đỗ Thanh Bình Hà Nội 03/2008 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới MỞ ĐẦU Văn minh là một nền văn hoá phát triển ở một trình độ cao của con người, gắn với một thiết chế chính trị, xã hội nhất định từ sau chế độ công xã nguyên thuỷ. Thời kì lịch sử cổ trung đại của Ên Độ đã tồn tại một nền văn minh rực rỡ. Trong số các điều kiện hình thành nên nền văn minh này thì điều kiện địa lí có vai trò định hình nền móng ban đầu. Nhưng điều kiện cơ bản nhất khẳng định sự phát triển về sau của nền văn minh đó chính là yếu tố kinh tế. Trong khuôn khổ một bài tập điều kiện, em xin phép được trình bày về cơ sở hình thành nền văn minh Ên Độ cổ trung đại dưới góc nhìn của điều kiện địa lí và điều kiện kinh tế. 2 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới NỘI DUNG A/ CƠ SỞ HÌNH THÀNH I/ Điều kiện địa lí Ấn Độ được coi nh mét tiểu lục địa nằm ở phía nam châu thời kì hình thành và phát triển nền văn minh cổ trung đại thì lãnh thổ Ên Độ vẫn bao gồm cả Pa-ki-xtan, Băng-la-đet và Nê-pan. Về mặt vị trí địa lí, bán đảo Ên Độ có chiều ngang rộng từ 67 đến 87° kinh đông và có chiều dài từ 7 đến 32° vĩ bắc. Phía đông bắc, Ên Độ được ngăn cách với lục địa châu Á bằng dãy núi Hi-ma-lay-a cao nhất thế giới. Ên Độ chỉ có thể liên hệ bằng đường bộ với thế giới qua phía tây-bắc, qua đèo Bolan, hoặc từ Ta- xi-la qua Ka-bul để đến I-ran và Trung Á. Tuy nhiên 2 mặt phía tây nam và phía đông nam của Ên Độ đều giáp biển. Vị trí của Ên Độ nằm giữa đường biển từ Tây Hồng Hải và vịnh Ba-tư sang Đông biển Đông và Thái Bình Dương . Đây chính là nơi dừng chân bắt buộc trên con đường hàng hải Tây- Đông. Đặc biệt, với đường biển thuận lợi nh thế thì việc thông thương giữa các vùng khác trên thế giới với Ên Độ hoặc từ Ên Độ đi các nơi khác là hết sức dễ dàng và thuận tiện. Về mặt địa hình thì lãnh thổ Ên Độ được chia thành 2 miền tương đối rõ rệt qua sự ngăn cách của dãy núi Vindhya. Nửa lãnh thổ phía bắc là lưu vực của 2 con sông lớn sông Ên Indus ở phía tây- bắc và sông Hằng Ganga ở phía đông- bắc. Lưu vực sông Ên một thời có điều kiện đất đai rất thuận lợi cho một nền kinh tế nông nghiệp. Và đây là một trong những cái nôi để hình thành nền văn minh cổ đại Ên Độ. Tuy nhiên sau đó khu vực này đã bị chi phối bởi các hiện tượng như hoang mạc hoá, cát lấn nên phần chủ yếu của lưu vực sông Ên chịu tác động từ hoang mạc Thar. Tuy nhiên lưu vực sông Hằng thì màu mỡ và ổn định hơn. Nửa lãnh thổ phía nam rất rộng lớn nhưng lại là vùng đất không có nhiều ưu đãi. Mặc dù có hai mặt giáp biển nhưng ảnh hưởng của biển không nhiều đối với 3 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới khu vực này do hai dãy núi Gát-Đông và Gát-Tây bao chắn ở hai bờ phía đông và phía tây của bán đảo. Sự khép lại của hai dãy núi này đã tạo nên một cao nguyên Đê-can khô hạn. Đây là vùng núi cao, rừng rậm rộng lớn và khá khắc nghiệt. Tuy nhiên chạy dọc theo hai bờ đông tây của bán đảo Ên Độ là hai vùng đồng bằng duyên hải nhỏ hẹp. Đây là những nơi điều kiện sống thuận lợi nên cư dân tập trung khá đông đúc. Về mặt khí hậu, khí hậu Ên Độ khá đa dạng xét theo chiều giảm dần của vĩ độ. Phía bắc, vùng giáp chân núi Himalaya thì khí hậu rất lạnh, có tuyết rơi. Nhưng ngay ở phía bắc Ên Độ, tính từ vĩ độ 23° bắc thì khí hậu đã rất nóng và khô do ảnh hưởng của đới chí tuyến. Vùng tây bắc thuộc lưu vực sông Ên, khí hậu khô nóng. Chính kiểu khí hậu này đã tạo nên hoang mạc Thar rộng lớn, mỗi chiều khoảng 600 km. Và đến lượt nó, hoang mạc Thar lại tác động trở lại đối với khu vực. Lưu vực sông Ên vốn Ýt mưa lại chịu tác động trực tiếp từ hoang mạc Thar nên cát bay dữ dội, phủ một líp dày trên hai bê trung lưu sông Ên. Nhưng phía đông bắc, vùng lưu vực sông Hằng thì lại là một bức tranh khác hẳn. Chịu ảnh hưởng của gió mùa từ biển thổi vào nên lưu vực sông Hằng có mưa và thực vật phát triển tốt. Nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là trồng lúa nước khá phát triển. Dịch xuống phía nam, nh đã nói ở trên, là khu vực cao nguyên Đê-can rất khô, nóng và rất nóng. Nhưng ở vùng duyên hải thì gió biển đã đem lại mưa, khí hậu dịu mát hơn và có nhiều nước sinh hoạt cho người dân ở đây. Nh vậy Ên Độ là một quốc gia có thiên nhiên đa dạng. Miền Bắc có lắm sông ngòi và nhiều điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển. Miền Nam có lắm rừng nhiều núi, có sa mạc nóng cháy lại có mưa gió theo mùa. Đây quả thật là một thiên nhiên vừa đóng kín, vừa cởi mở, vừa là một tiểu lục địa thống nhất, cách biệt với bên ngoài, vừa chia cắt và khác nhau ở bên trong, vừa hùng vĩ và cực kì đa dạng. 4 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Chính sự đa dạng trên đây, đặc biệt là các điều kiện thuận lợi ở các lưu vực sông ở miền Bắc mà cư dân cổ đại Ên Độ đã sáng tạo nên một nền văn minh rực rỡ. Trong điều kiện thời kì cổ đại, khi các yếu tố về khoa học kĩ thuật chưa chi phối thì những điều kiện địa lí thuận lợi chính là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. II/ Điều kiện kinh tế Kinh tế thời cổ trung đại Ên Độ vừa là điều kiện để hình thành nên các giá trị của nền văn minh Ên Độ vừa là biểu hiện của nền văn minh đó. Tuy nhiên, tương ứng với các giai đoạn phát triển khác nhau của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ thì sự phát triển kinh tế ở mỗi giai đoạn là khác nhau. Vì thế, xin phép đựoc trình bày các điều kiện kinh tế theo các giai đoạn của nền văn minh. 1/ Thời kì văn minh lưu vực sông Ên từ đầu TNK III TCN đến giữa TNK II TCN Nh trên chúng ta đã biết, khởi nguyên của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ là nền văn minh sông Ên văn minh I ndus. Từ rất sớm cư dân Indus đã định cư trên lưu vực sông Ên tạo nên các thành phố cổ với những ngành kinh tế sơ khai. Đầu tiên là ngành kinh tế nông nghiệp. Thời kì này công cụ đồng thau đã xuất hiện nhưng cư dân chưa biết đến kĩ nghệ đồ sắt. Họ không trồng lúa nước mà trồng lúa đại mạch. Nông nghiệp đã khá phát triển biểu hiện qua số thóc thừa chứa trong các kho đụn. Bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng đã có sự phát triển. Sản phẩm thủ công nghiệp khá phong phú, từ công cụ lao động đến đồ gốm, đồ trang sức Sản phẩm thủ công nghiệp của Ên Độ cũng đã có mặt tại Lưỡng Hà và ngược lại. Do buôn bán phát triển mà sản phẩm của Lưỡng Hà cũng có mặt ở đây. Một con dấu hình trụ của Lưỡng Hà được chế tạo mô phỏng theo kiểu của Ên Độ đã nói lên quan hệ giao lưu thương mại giữa hai vùng. 5 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Tuy nhiên do nhiều lÝ do, trong đó có sự ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết mà sau đó cư dân sông Ên đã loạn li. Hướng đi của cư dân Arya là về phía đông, định cư trên lưu vực sông Ganga. Lóc này cư dân bản địa ở đây mới bước vào thời kì đồng thau, vừa chăn nuôi vừa làm nông nghiệp sơ khai và chế tác đồ gốm. Người Arya đến và đã dạy người dân bản địa cách dùng ngựa để chuyên chở. Còn người bản địa thì lại dạy người Arya cách trồng lúa nước. Vì thế, một ngành nông nghiệp định cư đã thay thế cho chăn nuôi du mục, thực sự phát triển năng động, nhanh chóng chiếm ưu thế và làm chủ lưu vực sông G anga. Đó là cơ sở để làm nên nền văn minh ở lưu vực sông Hằng. 2/ Thời kì nền văn minh ở lưu vực sông Hằng từ khoảng giữa TNK II TCN đến giữa TNK I TCN. Nh trên đã trình bày thì nông nghiệp thời kì này ở lưu vực sông Hằng đã có những chuyển biến lớn. Cư dân đã biết dùng công cụ đồng và đá để đẽo các dụng cụ bằng gỗ, nhất là lưỡi cày. Họ còn đan bện các đồ dùng bằng lau sậy, thuộc da, làm đồ gốm, mà loại gốm phổ biến nhất là gốm đen bóng có hoa văn giải băng chấm. Cuối giai đoạn này, từ khoảng 800 năm TCN, kĩ nghệ luyện sắt đã được áp dụng. Điều này đã thúc đẩy nghề đúc kim khí, làm đồ gỗ, nhất là xe kéo, nhà cửa. Chính ở thời gian này thương nghiệp bắt đầu xuất hiện. Cư dân trao đổi sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp giữa các vùng. Có lẽ cũng đã xuất hiện ngoại thương. Các tài liệu có nói đến việc buôn bán ven biển với vịnh Ba-tư và Hồng Hải qua đường biển Tây-Đông. Hình thức phổ biến trong buôn bán vẫn là trao đổi trực tiếp tuy đã bắt đầu xuất hiện hình thức vật trung gian. Sù phát triển kinh tế nêu trên đã thúc đẩy sự phân hoá xã hội theo tính chất nghề nghiệp. Họ gọi dân làm nghề chăn nuôi ở đông bắc Ên Độ là Panis và dân làm ruộng là Dasa. Suđra hẳn được dùng để chỉ tầng líp này. 3/ Thời kì các quốc gia sơ kì ở miền bắc Ên Độ từ 600-321 TCN. 6 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Đây là giai đoạn mà ở lưu vực sông Ganga có sự hình thành của hàng loạt tiểu quốc trong đó thừa nhận vai trò bá quyền của tiểu quốc Magađa. Nhưng đây cũng là giai đoạn người Ên Độ bắt đầu có sự tiếp xúc với người Iran và người Hilạp, mà một trong những biểu hiện của sự tiếp xúc đó là sự xâm lược của Alêchxăngđrơ Makêđônia vào phía tây bắc Ên Độ. Tuy nhiên ở chính thời gian đó thung lũng sông Hằng vẫn đứng ngoài những biến động của lưu vực sông Ên. Và mặc cho những thăng trầm diễn ra, vùng này vẫn phát triển và đạt nhiều thành tựu mới. Nông nghiệp tiếp tục phát triển nhờ đất đai màu mỡ và hệ thống thuỷ lợi được mở mang. Các ngành thủ công có nhiều tiến bộ. Nghề luyện sắt và rèn đúc sắt lần đầu tiên nở ré dưới thời Magađa. Các loại mòi lao, giáo, mòi tên sắt đã khá phổ biến. Loại gốm đặc trưng của miền Bắc là loại có xương gốm mịn, tráng màu xanh thẫm, ngả từ màu xanh thép sang sám thẫm và đen bóng. Chủ yếu là đĩa và bát nhỏ- những mặt hàng thương phẩm có giá trị cao. Về dệt, người Ên Độ thời kì này đã dệt được vải trắng sợi bông. Còn về thương nghiệp, thời kì này các nhà buôn chuyên chở và trao đổi hàng hoá từ hạ lưu sông Hằng đến cửa sông Ên rồi theo đường biển đến vịnh Batư và Hồng Hải hoặc ngược sông Hằng lên Ta-xi-la và theo đường bộ đến Iran và Tiền Á. Trong trao đổi người Ên Độ đã đúc được tiền bạc và tiền đồng. 4/ Thời kì vương triều Môrya 321- 232 TCN Đây là thời kì kinh tế vẫn chủ yếu dùa vào nông nghiệp song đã thừa nhận sự chiếm hữu tư nhân về ruộng đất. Việc khai khẩn đất hoang thuộc về nhà nước. Người dân nhận ruộng của làng, tự canh tác và nép thuế. Gắn với nông nghiệp là thuỷ lợi. Nhà nước rất quan tâm đến công tác đắp đê, đào kênh, đập để phát triển nông nghiệp. 7 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có nhiều tiến bộ. Nhà nước điều khiển việc chế tạo vũ khí và tàu thuyền bên cạnh các nghề thủ công truyền thống. Thợ thủ công tập hợp lại với nhau trong các phường hội. Việc buôn bán nội địa lúc này phát triển hơn nhiều do không còn có sự phân biệt quốc gia này với quốc gia khác từ bắc đến nam. 5/ Thời kì phân liệt trên bán đảo Ên Độ 232 TCN-320 sau CN Đây là thời kì Ên Độ diễn ra sự phân chia các quốc gia với sự phát triển khác nhau giữa các tiểu quốc ở các miền Nam-Bắc. Tuy nhiên có thể nói rằng sau thời kì thống nhất của vương triều Môrya thì đây không phải là một giai đoạn khủng hoảng tan rã của Ên Độ mà đây là sự chia cắt để phát triển cao hơn, tương đối đồng đều hơn trong từng phạm vi nhỏ hơn ở mỗi miền đất nước. 6/ Từ triều đại Gupta đến triều đại Hacsa từ 320 đến 648 Nông nghiệp vẫn được chú trọng với việc khai hoang và làm thuỷ lợi. Trong khi đó thì thủ công nghiệp khá phát triển. Nghề dệt là nghề phát triển nhất và có ý nghĩa hàng đầu đối với kinh tế. Tiếp đến là khai mỏ và luyện kim, đặc biệt là nghề làm đồ trang sức đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao và hoàn thiện. Thương nghiệp cũng được phát triển với mạch máu giao thông chính là con sông Hằng. Hàng hoá trao đổi rất phong phú. Một loạt các hải cảng quan trọng đã thu hót các tàu buôn từ Trung Quốc, Ai Cập, Đông Dương, Mã Lai 7/ Thời kì bị chia cắt và xâm lược giữa thế kỉ VII đến thế kỉ XII. Nhìn chung kinh tế Ên Độ thời kì này sa sút dù rằng cũng đã được duy trì ở một mức độ nhất định để phục vụ chiến tranh. Nông nghiệp được canh tác 2 mùa với những kĩ thuật canh tác mới. Sản phẩm thừa từ nông nghiệp được mang ra trao đổi khá phong phú. thời gian này thợ thủ công được các chóa phong kiến đưa vào thành phố nên thủ công nghiệp ở thành thị phát triển mạnh. Ngoại thương vẫn được duy trì nhưng thời kì này người ta còn biết buôn bán cả với Nhật Bản. Thương nhân cũng tập hợp lại trong các đẳng cấp. 8 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới 8/ Thời kì Xuntan Đêli và Ên Độ Môgôn thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX Thời kì Xuntan Đêli Nền kinh tế với nông nghiệp vẫn là chủ yếu nhưng thời kì này năng suất đã tăng lên. Thủ công nghiệp vẫn phát triển các ngành truyền thống làm cho ngoại thương cũng trở nên tấp nập với nhiều hải cảng ở vịnh Bengan, biển Arập Bước sang thời kì vương triều Môgôn, với sự tập trung nhất định của nhà nước trong việc điều hành đất nước thì nền kinh tế Ên Độ đã được nâng cao Ýt nhiều. Ngoài trồng cây lương thực người ta còn trồng các loại cây công nghiệp. Mỗi thành phố hải cảng thường có một nghề thủ công riêng nhưng thương mại của thành phố đó mới là quan trọng nhất. Nhìn chung mỗi thời kì nền kinh tế Ên Độ có những bước phát triển riêng nhưng về cơ bản ngành kinh tế truyền thống của nước này vẫn là nông nghiệp và công thương nghiệp. Giao lưu trao đổi nội vùng và với thế giới bên ngoài phát triển mạnh. Nhờ đó, nền văn minh cổ trung đại Ên Độ vừa có những thành tựu đa dạng khẳng định những giá trị của văn hoá truyền thống vừa có sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá từ bên ngoài vào. Như vậy kinh tế chính là một trong những điều kiện qui định tính chất và trình độ của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. B/ NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH Trong bối cảnh điều kiện tự nhiên của các lưu vực sông ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế và văn hoá nên các thành tựu của nền văn minh Ên Độ có những đặc điểm riêng. Về cơ bản, các thành tựu đó tập trung trên một số lĩnh vực sau 1. Về chữ viết Chữ viết của Ên Độ được sáng tạo đầu tiên vào thời văn hoá Happara. Tại lưu vực sông Ên đã phát hiện tới trên 3000 con dấu khắc chữ đồ hoạ. Đây là một loại chữ dùng hình vẽ để ghi âm và ghi vần. Loại chữ này được viết từ phải sang trái. Điều đặc biệt là các con dấu này được đóng trên các kiện hàng để xác nhận 9 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới hàng hoá, chứng tỏ nền kinh tế, đặc biệt là việc trao đổi hàng hoá đã rất phát đạt. Chi tiết đó càng chứng tỏ kinh tế chính là điều kiện làm nên văn minh nh đã phân tích ở trên. Đến thế kỉ V TCN thì xuất hiện một loại chữ, đó là Kharosthi, phỏng theo chữ của vùng Lưỡng Hà. Sau đó xuất hiện chữ Brami được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trên bia mộ của Axôca. Trên cơ sở chữ Brami, người Ên Độ đã đặt lại chữ Đêvanagari có cách viết thuận tiện hơn. Loại chữ này còn được dùng tới ngày nay tại Ên Độ và Nêpan. 2. Văn học Trong cuộc sống sinh hoạt, đấu tranh sinh tồn, chống thiên tai và chống xâm lấn, nền văn học Ên Độ đã ra đời và có nhiều thành tựu đáng kể. Hai bộ phận quan trọng của văn học là sử thi và Vêđa. a/ Vêđa Thông qua hình thức các bài ca và những bài cầu nguyện, các tập của Vêđa không những phản ánh bối cảnh xã hội Ên Độ ở thời kì tan rã của chế độ công xã thị téc, hình thành một xã hội có giai cấp và nhà nước mà còn là bức tranh về cuộc sống của cư dân Ên Độ ở thời điểm đó. Đó là nội dung của 3 tập đầu tiên Rích Vêđa, Xama Vêđa và Yagiua Vêđa. Còn tập cuối cùng là Atacva Vêđa lại đề cập đến một lĩnh vực khác, đó là chế độ đẳng cấp, việc hành quân hay cả một số mặt của đời sống xã hội. Và sau 4 tập kinh Vêđa là một số tác phẩm viết bằng văn xuôi, tuy nhiên không có nhiều giá trị. b/ Sử thi Có hai bộ sử thi rất nổi tiếng đó là Mahabharata và Ramayana. Đây là hai bộ sử thi đồ sộ được truyền miệng từ nửa đầu thiên niên kỉ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ. -Mahabharata nghĩa là cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata là bộ sử thi dài nhất thế giới gồm có 18 chương và một chương bổ sung tài liệu, gồm 10 [...]... thần của cư dân Ên Độ, ảnh hưởng và chi phối tình hình chính trị – xã hội của Ên Độ Đây là một trong những thành tựu đáng kể nhất trong nền văn minh cổ trung đại Ên Độ 17 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế KẾT LUẬN Tóm lại, những thành tựu của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ là cực kì phong phú và nổi bật Những nét văn hoá trong nền văn minh đó vừa mang những nét chung của văn hoá Á Đông, vừa... định hình những bản sắc riêng của văn hoá Ên Độ Những thành tựu đó có thể vẫn đang tồn tại hoặc cũng có thể đã không còn, nhưng chúng vẫn vẹn nguyên sự vô giá đối với lịch sử hiện đại của Ên Độ và đối với loài người 18 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Amalnach những nền văn minh thế giới, NXB văn hóa thông tin, Hà nội, 1995 2 Đặng Đức An Chủ biên, Lịch sử thế giới cổ đại, ... NXBGD, 1995 3 Lê Phụng Hoàng Chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, NXBGD, 1999 4 Lê Phụng Hoàng, Hà Bích Liên, Trần Hồng Ngọc, Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ- trung đại, NXBGD, 1999 5 Lương Ninh Chủ biên, Lịch sử văn hóa thế giới cổ trung đại, NXBGD 6 Lương Ninh Chủ biên, Lịch sử thế giới cổ đại, NXBGD,1995 7 Vò Dương Ninh Chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, NXBGD 19... chỉ có Ksatơrya và Vaisya được trở thành tín đồ của đạo Blamôn và đều được sinh ra hai lần Còn Suđra chỉ được sinh có một lần và không được dự những buổi lễ tôn giáo b/ Sự hình thành và giáo lí của đạo Hinđu 15 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế - Sự hình thành Thế kỉ IV, đạo Phật xuất hiện ở Ên Độ, đạo Bàlamôn bị suy thoái Cho tới thế kỉ VII, đạo Phật lại bị suy sụp Nhân tình hình đó thì đạo... nhận 3 Về thiên văn học Người Ên Độ từ thời cổ đại đã tính ra rằng một năm có 12 tháng, một tháng có 30 ngày, một ngày có 30 giê và cứ 5 năm thì lại có một năm nhuận Do yêu cầu của cuộc sống sản xuất nông nghiệp nên cư dân cổ Ên Độ sớm có những quan sát bầu trời và vũ trụ và tính toán, cho dù những tính toán đó có thể là chưa chính xác Tuy nhiên việc họ cho rằng Trái Đất và Mặt Trăng hình cầu là hoàn... Độ đã tính được sè π bằng 3,1416 Họ cũng đã phát minh ra được đại số học Còn trong hình học họ biết tính diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, đa giác, tính được quan hệ giữa các cạnh trong tam giác vuông Có thể nói toán học xuất hiện từ bản thân cuộc sống của cư dân Ên Độ cổ đại và đến lượt nó toán học đã ứng dụng thiết thực vào chính nhu cầu của cuộc sống đó 5 Về vật lí học Phát minh. .. ra, từ những thế kỉ 5 - 4 TCN người Ên Độ đã biết cách chắp xương sọ, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận với hàng trăm thứ thuốc thảo méc Ngoài những ngành khoa học trên đây, người Ên Độ còn có những hiểu biết về các lĩnh vực nh hoá học, sinh học, nông học nghệ thuật Cuộc sống phong phú cùng với sự giao lưu văn hoá đã làm nên những nét đặc sắc của kiến trúc, điêu khắc của nền văn minh Ên Độ Kiến... khoa học kiêm triết học người Ên Độ Trường phái triết học Vaisêsica cho rằng vạn vật đều do nguyên tử tạo nên, vật chất khác nhau là do nguyên tử khác nhau Ngoài ra người Ên Độ cũng đã biết đến sức hót của quả Đất Đây rõ ràng là những nhận thức ban đầu rất quan trọng, đặt nền móng cho các ngành vật lí học về sau 6 Về y dược học Ên Độ cổ đại đã có nhiều thành tựu rất lớn và sớm hơn nhiều so với các nước... kỉ VIII và IX, đạo Bàlamôn có bổ sung thêm nhiều yếu tố mới và từ đó được gọi là đạo Hinđu, hay còn gọi là Ên Độ giáo - Giáo lí Đạo Hinđu ra đời trên cơ sở đạo Bàlamôn nên về cơ bản nội dung tư tưởng của nó không có nhiều thay đổi Đối tượng sùng bái của đạo Hinđu vẫn là 3 vị thần Brama, Siva và Visnu Có khác chăng là quan niệm về các vị thần này đã rõ ràng và sâu sắc hơn Đạo Hinđu cũng chia thành hai... Lan, Inđônêxia - Đến khoảng năm 100 sau công nguyên, đạo Phật triệu tập đại hội và thông qua giáo lí của đạo Phật cải cách bằng phái Đại thừa Sau đại hội này, đạo Phật lại tiếp tục được truyền bá mạnh ở Trung Á, Trung Quốc và trở thành quốc giáo của Xrilanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào Ngoài đạo Hinđu và đạo Phật, ở Ên Độ còn tồn tại một số tôn giáo khác nh đạo Jain, đạo Xích Thực sự tôn giáo . TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬ BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN BỘ MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI ĐỀ TÀI NỀN VĂN MINH CỔ TRUNG ĐẠI ÊN ĐỘ CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU Họ và tên. Ên Độ. Đây là một trong những thành tựu đáng kể nhất trong nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. 17 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới KẾT LUẬN Tóm lại, những thành tựu của nền văn minh cổ. nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. II/ Điều kiện kinh tế Kinh tế thời cổ trung đại Ên Độ vừa là điều kiện để hình thành nên các giá trị của nền văn minh Ên Độ vừa là biểu hiện của nền văn minh - Xem thêm -Xem thêm tiểu luận nền văn minh cổ trung đại ấn độ cơ sở hình thành và những thành tựu chủ yếu, tiểu luận nền văn minh cổ trung đại ấn độ cơ sở hình thành và những thành tựu chủ yếu, Tiểu luận NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC doc ... Tiểu luận NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC. Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 20 LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN ... cứu về nền văn minh Trung Quốc cổ trung đại nói chung và lịch sử văn minh nói riêng. Chúng em hy vọng thông qua bài thảo luận này sẽ có cái nhìn toàn diện hơn và sâu sắc hơn. Một nền văn minh ... đó văn chương trở thành thước đo chủ yếu của tài năng; do đó văn học Trung Quốc càng có nhiều thành tựu lớn lao. Văn học Trung Quốc thời kì này có nhiều thể loại như thơ ,từ, phú, kịch, tiểu... 21 14,983 51 Tiểu luận "Những thành tựu của CNXH và nguyên nhân lâm vào khủng hoảng trong thời gian vừa qua" ... thần hăng say của nhân dân lao động nên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh tế. Trong vòng 20 năm đó tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước XHCN đạt được mức trung bình trên ... lĩnh vực văn hoá, khoa học công nghệ các nước XHCN cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đáng tự hào. Trước khi cách mạng XHCN thành công thì hầu hết các nước này trình độ học vấn của nhân ... Nhờ vậy các nước XHCN đã bảo vệ được thành quả của cách mạng, bảo vệ được nền hoà bình thế giới, chỗ dựa cho phong trào cách mạng thế thành tựu to lớn mà các nước XHCN giành được... 3 995 4 Tài liệu Bí quyết thành công của các doanh nhân Trung Quốc doc ... Bí quyết thành công của các doanh nhân Trung Quốc Tạp chí Forbes mới đây đã công bố danh sách những người giàu nhất Trung Quốc. Theo đó, số lượng người Trung Quốc sở hữu tài sản ... giàu thứ hai Trung Quốc này ước khoảng 1,4 tỷ USD. Thành công của Zhu Mengyi đến từ sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng và đô thị hoá tại Trung Quốc. Tiếp theo là Ding Lei, thành viên sáng ... và tín nhiệm quốc tế Trung Quốc, với tổng tài sản lên đến 1,64 tỷ USD, tăng 150 triệu USD so với năm 2004. Larry là con trai của cựu phó thủ tướng Trung Quốc, Rong Yiren. Tập đoàn của Larry có... 7 730 3 Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh ăngco 802 1434 ... cao của hạ lu sông Mêkông. Jayavácman II đã chú trọng9Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ăngco 802-1434 Đào Thị LêChơng 2Những thành tựu chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế- xã hội của văn ... đầu10Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ăngco 802-1434 Đào Thị Lê Vì vậy tìm hiểu vị trí và những giá trị của nền văn minh Ăngco tronglịch sử Campuchia cùng với sự đóng góp của nó vào ... hệ thốnghơn về một trong những nền văn minh phát triển rực rỡ của khu vực ĐôngNam á trong thời kỳ trung đại. 2. Lịch sử vấn thành tựu của nền văn minh Ăngco đợc rất nhiều nhà nghiêncứu... 43 1,043 0 NHỮNG THÀNH TỰU CỦA VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY CỔ TRUNG ĐẠI P .2 ... NHỮNG THÀNH TỰU CỦA VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY CỔ TRUNG ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI NỀN VĂN HÓA THẾ GIỚI P2 II. Những thành tựu của văn hóa phương Tây cổ - trung đại và ảnh hưởng của nó đối với nền văn ... hóa thế giới 1. Chữ viết Những thành tựu huy hoàng của văn minh Hi Lạp đã trở thành mẫu mực và đỉnh cao cuả nhiều thời đại. Đó là kết quả của một nền kinh tế phát triển cao, một thể chế ... cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, khoa học, nghệ thuật…mang mọi nền văn hóa của các quốc gia dần xích lại gần nhau hơn. 2. Văn học Văn học Hi Lạp gồm 3 bộ phận gắn bó... 9 2,301 23 Xem thêm Ngày đăng 10/03/2014, 1920 Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 1 Tiểu luận NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC. Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 2 LỜI MỞ ĐẦU Như vậy với những ưu thế nổi vốn có của mình thì Trung Quốc đã có một nền văn minh vô cùng rực rỡ về nhiều mặt, trong đó nổit bật như chữ viết, văn học, sử học , khoa học –tự nhiên…Đặc biệt Trung Quốc rất coi trọng việc giáo dục con người thể hiện trong việc mở các trường học và tổ chức các khoa cử trong các triều đại trước. Với một đất nước có bề dày về mặt lịch sử, bề rộng về mặt địa lý, ngay từ thời cổ đại Trung Quốc đã có những phát minh lớn có tiếng vang và ảnh hưởng đến cả thế giới, trong đó tiêu biểu nhất là giấy, la bàn,thuốc nổ…Việc phát minh ra giấy là một cuộc cách mạng trong truyền bá chữ viết, trao đổi tư tưởng và phổ biến kiến thức Những phát minh đó cho thấy con người Trung Quốc rất năng động, sáng nữa, suốt 5000 năm tồn tại và phát triển, văn minh Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng đến các dân tộc châu Á,mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát triển của văn minh loài phát minh lớn của Trung Quốc trong lịch sử khoa học -kĩ thuật của thế phát minh đó đã làm thay đổi bộ mặt thế giới,loại thứ nhất trên bình diện văn học , loại thứ hai trên bình diện chiến tranh, loại thứ ba trên bình diện hàng hải… Từ một nước nghèo nàn ,lạc hậu thì Trung Quốc đã phấn đấu đi lên thành một nước có chỉ số phát triển đầu người cao nhất thế giới. Chính trị từ khủng hoảng đến ổn định. Những đóng góp của văn minh Trung Quốc cho nhân loại là rất lớn,chúng ta không thể phủ nhận tế đã cho thấy điều đó. Ảnh của nền văn minh Trung Quốc là rất lớn,trong đó không thể ngoại trừ Việt Nam cần học tập con người Trung Quốc về sự nhạy bén với thời cuộc,sáng tạo hơn nữa trong các lĩnh vực. Với những thành tựu đó,ngừơi Trung Quốc hoàn toàn có thể ngẩng cao đầu trên trường quốc tế,ngừơi Trung Quốc có thể tự hào về con ngừơi và đất nước Quốc xứng đáng để cả thế giới ngưỡng mộ và học tập. Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 3 Thư pháp NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC. 1/Chữ viết Cũng giống như các quốc gia khác, ban đầu phương tiện giao tiếp chủ yếu để biểu đạt tình cảm, truyền đạt tin tức, trao đổi kiến thức và kinh nghiệm của người Trung Quốc cổ xưa là cách truyền miệng vào các thời trước thời Hoàng Đế. Đến thời Hoàng Đế người ta đã kết dây thừng thắt dây, tức là dùng dây thắt nút để ghi nhớ điều gì đó. Việc lớn thì thắt nút lớn, việc nhỏ thì thắt nút nhỏ. Đây là một phương pháp sơ khai để ghi nhớ sự việc mà không chỉ người Trung Quốc biết làm. Khoảng thiên nhiên kỉ II người Ân Thương đã có chữ viết, đó là văn tự giáp là mai rùa, cốt là xương thú, giáp cốt văn tự là khắc trên mai rùa hoặc xương thú. Giáp cốt văn có niên đại sớm nhất tìm được là thuộc triều Võ Đinh khoảng 1324 – 1266 ; tài liệu này còn có tên là giáp cốt văn Ân Khư vì đào được ở Ân Khư. Chữ trên giáp cốt là loại chữ tượng hình nhưng dần do yêu cầu ghi chép các động tác và các khái niệm trừu tượng, trên cơ sỡ chữ tượng hình đã phát triển thành hai loại chữ biểu ý thể hiện ý và hài thanh mượn âm thanh. Tổng số chữ viết trên văn tự giáp cốt có tới 5000 chữ; có những đoạn văn dài đến hơn 100 chữ. Đến thời Tây Chu số lượng chữ càng nhiều và cách viết càng đơn giản. Chữ viết tiêu biểu thời kì này là kim văn, cũng gọi là chung đỉnh văn chữ viết trên chuông đỉnh . Các chữ viết đầu tiên này được gọi chung là chữ đại triện, cũng gọi là cổ văn. Thời Xuân Thu Chiến Quốc do đất nước không thống nhất nên chữ viết cũng không thống nhất. Đến thời Tần, Lý Tư đã dựa vào chữ nước Tần kết hợp với các thứ chữ của các nước khác, cải tiến cách viết tạo thành một loại chữ thống nhất được gọi là chữ tiểu triện. Từ cuối thời Tần Thủy Hoàng 221 – 206 TCN đến thời Hán Tuyên đế 73 -49 TCN , lại xuất hiện một kiểu chữ mới gọi là chữ lệ. Chữ lệ khác chữ triện ở chỗ chữ triện còn giữ lại nhiều yếu tố tượng hình, do đó có nhiều nét cong nét tròn, còn chữ lệ thì biến những nét đó thành ngang bằng sổ thẳng vuông vức ngay ngắn. Thời gian sử dụng chữ lệ tuy không lâu nhưng chữ lệ có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là giai đoạn quá độ để phát triển thành chữ chân tức là chữ Hán ngày nay. Chữ giáp cốt Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 4 Chữ Hán đã nhiều lần cải tiến từ chữ tượng hình thành chữ phù hiệu làm nó thoát li đồ họa thành văn tự, từ nét không đều hoặc cong queo thành nét đều tròn, từ hình chữ không có định thành cố định, từ kết cấu phức tạp thành đơn giản. Không chỉ dừng lại ở đó, do xuất phát từ yêu cầu tìm tòi nghệ thuật mà chữ hán đã trở thành một mĩ thuật biểu cảm dân tộc, thể hiện tâm tư và nguyện vọng của con người, có tác dụng thẩm mỉ và giá trị mĩ học pháp Trung Quốc thật sự thu hút sự chú ý của loài người. Chữ Trung Quốc đã có lúc trở thành “ Quốc gia văn tự” đối với các nước Đông Á và Việt Nam. Ra đời từ thiên nhiên kỉ thứ II tr CN, chữ viết Trung Quốc là hệ chữ duy nhất hiện còn được sử dụng và ngày càng đổi mới để đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày nay. học Văn học là lĩnh vực phát triển từ rất sớm ở Trung Quốc,Trung Quốc có một nền văn học rất phong phú. Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc , văn học Trung Quốc đã bắt đầu phát triển. Đến thời Tây Hán tư tưởng Nho gia được đề cao. Đến thời Tùy Đường chế độ khoa cử bắt đầu ra đời, trong đó văn chương trở thành thước đo chủ yếu của tài năng; do đó văn học Trung Quốc càng có nhiều thành tựu lớn lao. Văn học Trung Quốc thời kì này có nhiều thể loại như thơ ,từ, phú, kịch, tiểu thuyết,….trong đó tiêu biểu nhất là kinh thi thơ Đường và tiểu thuyết Minh Thanh. a/ Kinh thi Kinh thi là tập thơ cổ nhất của Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác từ những năm đầu Tây Chu đến giữa Xuân Thu khoảng 500. Với 305 bài Kinh thi chia làm ba phần Phong, Nhã, Tụng. - Phong là dân ca các nước gồm 15 nước nên gọi là Quốc Phong - Nhã là âm nhạc vùng vương triều nhà Chu trực tiếp thống trị gồm đại Nhã phản ánh sinh hoạt của quý tộc, Tiểu Nhã phản ánh sinh hoạt của các tiểu quý tộc. - Tụng là loại thơ ca tán tụng công đức của các ông vua thường dùng trong tế tự ở trong miếu như Thượng Tụng, Chu Tụng ,Lỗ Tụng. Quốc Phong chiếm một nữa số bài trong Kinh thi, cũng là phần có giá trị nhất vì nội dung của nó mang đậm tính nhân văn và tính hiện thực sâu sắc. Kinh Thi chủ yếu tứ ngôn, phần lớn mang hình thức “ trùng chương điệp cú”, ngôn ngữ chất phát, cách điệu mới mẻ, mà hậu thế khái quát thủ pháp biểu hiện trong Kinh thi thành, Phú, Tỷ, Hứng. Kinh thi đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến văn học Trung Quốc sau này. b/ Thơ Đường Thơ Đường là đỉnh cao của nền thư ca Trung Quốc. Hàng ngàn năm đã trôi qua nhưng đến nay những bài thơ Dường vẫn làm say mê long người bởi những nội dung và giá trị tuyệt vời của chúng . Trong núi thơ thời Đường ngày ấy, nay người ta còn giữ lại được khoảng 48000 bài thơ của trên 2300 tác giả, tiêu biểu nhất là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 5 Lý Bạch 701-762 tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê Miên Châu Tứ Xuyên, 12 tuổi đã làm thơ, học rộng, biết nhiều lại giỏi về kiếm thuật. Ông từng được Đường Huyền Tông trọng dụng, làm Hàn lâm cung phụng, nhưng chán cảnh luồn cúi, ưa phóng khoáng nên đã từ quan bỏ đi chu du khắp nơi. Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn vĩ đại sau Khuất Nguyên. Thơ ông tập trung miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên, thắm đượm tình yêu đất nước, yêu nhân dân sâu sắc, đồng thời cũng thể hiện tính cao ngạo, coi thường quyền quý, lớn tiếng đã kích các thế lực phong kiến đen tối,….Nhưng bên cạnh những áng thơ kinh điển, ông cũng có những bài thơ “ đắm mình “ trong rượi và thoát tục du tiên. Dặc điểm nghệ thuật thơ Lý Bạch đẹp, hào hùng, bút thế linh hoạt. Ông đã lại trên 1200 bài thơ, tiêu biểu nhất là bài hàn lộ nan, xa ngắm thác núi lư, mộng du thiên mu ngâm lưu biệt,…. Đỗ Phủ 712-770 tự Tử Mỹ, hiệu Thiếu Lăng Dã Lão, tổ tiên người Tương Dương Hồ Bắc. Ông sinh ra ở huyện Cũng Hà Nam trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Ông đi thi nhiều lần nhưng không đỗ, 40 tuổi mới làm chức quan nhỏ trong 7 năm. Ông sống trong thời đại mà xã hội thời Đường đi từ thịnh đến suy. Thơ Đỗ Phủ phản ánh chân thực các mặt đời sống trước và sau loạn An Sử, chan chứa lòng yêu thương tổ quốc và tình cảm nồng hậu với nhân dân. Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại trong lịch sữ văn học Trung Quốc. Bên cạnh nội dung tư tưởng sâu sắc, là nghệ thuật biểu hiện siêu phàm, ảnh hưởng rất lớn nđến sự phát triển thơ ca sau này. Trong số 1400 bài thơ truyền đời của ông, tiêu biểu nhất là các tác phẩm Phó Phụng Tiên huyện Vinh Hoài, NGũ bách tự, Bắc chinh, Thạch Hào lại Viên lại ở Thạch Hào… Lý Bạch và Đỗ Phủ được ví như hai ngôi sao sáng chói trên thi đàn cổ điển Trung Quốc. Bạch Cư Dị 772-846 tự Lạc Thiên, quê Hạ Khuê Thiểm Tây, xuất thân trong một gia đình quan lại, đậu tiến sĩ làm quan to trong triều, sau bị giáng chức xuống làm Tư Mã Giang Châu. Ông là người đề xướng dùng thể tân nhạc để viết những đề tài mới về thời sự. Bạch Cư Dị chủ trương thơ ca phải phản ánh nổi thống khổ của nhân dân, đồng thời vạch trần cuộc sống hoang dâm và nền chính tị lừa bịp của giai cấp thống tri…Số lượng thơ ông khá nhiều 2800 bài, tiêu biểu là các bài Mại tháng ông, Khinh phì , Thượng Dương bạch phát nhân. Đỉnh cao của thơ Bạch Cư Dị là hai bài Trường hận ca và Tùy bà hành. c/ Tiểu thuyết thời Minh,Thanh. Thời Minh, Thanh đả ra đời một loạt những tiểu thuyết tiếng tăm bất hủ. Dựa vào các câu chuyện lưu truyền trong dân gian, các nhà văn đã viết thành tiểu thuyết chương hồi phong phú về nội dung và hình thức. Thời Minh tiêu biểu nhất là bộ Tam quốc chí diễn nghĩa, Thủy Hử và Tây du kí. Bộ ba tiểu thuyết này trở thành di sản quý báu trong nền văn học Trung Quốc và trong kho tàng văn học thế giới. Tam quốc chí diễn nghĩa do La Quán Trung tiếp thu từ truyền thuyết dân gian,rồi căn cứ vào sự thật lịch sử, gia công chỉnh lý mà viết thành sách. Mặc dù có hư cấu nhưng cốt truyện phù hợp với sự thật lịch sử và hợp tình hợp lý, đậm đà tính Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 6 nghệ thuật chân thực. Sách kể lại lịch sử từ năm 184 đến 280 sau CN, khắc họa cuộc đấu tranh giữa 3 nước Ngụy, Thục, Ngô, phơi bày xã hội đen tối mục nát và nổi thống khổ của nhân dân thời loạn lạc. Thủy hử là bộ trường thiên tiểu thuyết được Thi Nại Am căn cứ vào sử liêu Bắc Tống cùng với những tình tiết sinh động của các thoại bản và tạp kịch kể về 108 người trong nhóm Tống Gian đầu đời nguyên mà viết thành truyện. Thủy hử kể lại cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Lương Sơn Bạc dưới sự lãnh đạo của Tống Gian. Tư tưởng cơ bản trong tác phẩm là tư tưởng “ trung nghĩa” phong kiến… Thành công lớn nhât là tác giả đã sáng tạo ra được nhiều hình tượng anh hùng nông dân tiêu biểu như Tống Gian, Lý Quỳ, Lỗ Trí Thâm… sống mãi trong lòng nhân dân Trung quốc. Tây du kí do Ngô Thừa Ân sáng tác, miêu tả 81 hồi gian truân mà thầy trò Đường Tăng đã trải qua và chiến thắng. Toàn bộ tác phẩm bậc lên tinh thần lãng mạn, tính châm biếm hài hước và tính chất chống phong kiến. Từ đầu nhà Thanh đến những năm cuối đời vua Càn Long là thời kì tiểu thuyết cực thịnh. Tiêu biểu có các tác phẩm Liêu trai chí dị, Thủy Hử hậu truyện, Tỉnh thế nhân duyên truyện, Nho lâm ngoại sử, Hồng lâu mộng. Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh 1640-1715 là tập đoãn thiên tiểu thuyết có 490 truyện chia làm 4 loại…Tác giả đã mượn chuyện Hồ Ly Ma Quái để chỉ không khí hiện thực hắc ám đương thời, bày tỏ tình nhân thế thái. Tác phẩm này đạt đỉnh cao của đoản thiên tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử 1705-1754 là bộ tiểu thuyết châm biếm nhằm đã kích nền luân lý phong kiến thời cổ và chế độ khoa cử thời đó Hồng lâu mộng do Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc sáng tác đã miêu tả cảnh hưng suy của một gia đình phong kiến và chuyên tình của đôi nam nữ Giả Bảo Ngọc- Lâm Đại Ngọc. Tác phẩm khắc họa rõ nết bộ mặt phong kiến Trung Quốc mạc kì, phê phán chế độ thi cử, quan trường và lễ giáo phong kiến, nêu khác vọng tự do…Nó có tác dụng chống lại ý thức hệ phong kiến. Hồng lâu mộng là tiểu thuyết có giá trị, xứng đáng là một kiệt tác của nhân loại. 3/ Sử học Một trong những đặt điểm của văn hóa cổ đại Trung Quốc là sử học rất phát triển. Đây là một lĩnh vực đạt nhiều thành tựu to lớn. Dân tộc Trung Quốc có ý thức cao về lịch sử và rất giàu kinh nghiệm trong biên soạn lịch sử. Chế độ sử quan chưa hề gián đoạn, ghi chép lịch sử liên tục, phong phú về hình thức, đa dạng về thể loại. Từ thời Tây Hán, sử học mới trở thành một lĩnh vực độc lập và ngày càng phát triển. Thủy Hử Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 7 Người đặt nền móng cho sử học Trung Quốc là Tư Mã Thiên. Sau đây xin điểm qua một số tác phẩm tiêu biểu nhất. Sử ký của Mã Tư Thiên là bộ thông sử theo kiểu bất khoa toàn thư trải suốt 3000 năm lịch sử từ thời Hoàng Đế đến Hán Vũ Đế, gồm 5265000 nghìn chữ chia làm 13 chương với 5 thể loại phối hợp và bổ sung cho nhau 12 bản kỉ, 10 biểu, 8 thư, 30 thế gia, 70 liệt truyện. Sử ký đề cập đến các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, chế độ điển chương, học thuật, văn hóa, y dược, bói toán, hoạt động của mọi nhân vật thuộc mọi tầng lớp xã hội, thiên văn, địa lí, công trình đê điều, quan hệ giữa các dân tộc, quan hệ giao lưu với các nước ngoài…, đồng thời phê phán thuyết thiên phân hợp nhất, âm dương ngũ hành, đề xướng nhân nghĩa, chống bạo lực, ghét chiến tranh, coi trọng hoạt động sản xuất…, Tư Mã Thiên là người đầu tiên trong các sử gia trên thế giới ghi chép lịch sử bằng thể ký. Sử ký đã để lại cho đời sau những tư liệu lịch sử hết sức có giá trị, đồng thời cũng là một kiệt tác văn học được Lỗ Tấn ca ngợi là “ lời hát tuyệt vời của các sử gia, thiên Li Tao không vần”. Sử ký của Tư Mã Thiên được xếp vào hàng những tác phẩm đồ sộ của nhân loại. Kế thừa thể lệ của sử thi, Ban Cố thời Đông Hán 32-92 s. CN đã biên soạn sách Hán thư, mở đầu cho cách viết sử chia theo thời đại. Hán thư gồm 12 bản kỉ, 8 biểu, 10 chí, 70 liệt truyện ghi chép những sự kiện xảy ra từ những năm đầu Hán Cao Tổ 260 TCN đến năm thứ tư – Vương Mãng năm 23 s. CN theo thể loại truyện ký. 10 chí của Hán thư so với 8 thư của sử ký thì hoàn hảo và sáng tạo hơn…, nhưng do nhãn quan chính trị của Ban Cố nên Hán thư trỏ thành một tác phẩm sử học chính thống ủng hộ nền thống trị phong kiến, phê phán tư tưởng chống đối của Tư Mã Thiên. Từ đời Hán đến Nam Bắc Triều,ngoài Hán thư còn có Tam quốc chí của Trần Thọ, hậu Hán thư của Phạm Diệp. Sau đó, Tùy Văn Đế,Đường Thái Tông,lập cơ quan biên soạn lịch sử của nhà nước gọi là “ Sử quán” do tể tướng và đại thần phụ trách .Các chức sử quan được lập chuyên lo việc soạn thảo lịch sử. Từ đó, nhiều bộ sử như Tấn thư, Lương thư,Trần thư, Bắc Tề thư, Chu thư, Tùy thư, Nam sử, Bắc sử… ra đời. Sau này, còn quy định về quyền soạn chính sử, theo đó chỉ nhà vua mới có quyền cử người soạn chính sử, tể tướng giám định, tư nhân không được viết sử như trước nữa. Trong 15 bộ chính sử được biên soạn có Tùy thư, Tân Đường thư, Kim sử được đánh giá cao… Nhưng bộ sử có ảnh hưởng đời sau nhất là bộ Tư trị thông giám của Tư mã Quang. Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 8 Tư Mã Quang 1019-1086 đã để ra 19 năm trời để soạn bộ thông sử theo thể biên niên, khác với cách biên niên sử từng thời trước đó. Thực ra đây là một công trình tập thể của Tư Mã Quang, Lưu Thư, Lưu Du và Phạm Tổ Ngu. Các tác giả đã tham khảo nhiều loại tài liệu và ý kiến của 310 nhà viết tạp sử… Tư mã Quang là người viết bản thảo cuối cùng. Bộ sách ghi từ thời chiến quốc 403 TCN đến Ngũ đại959, tổng cộng là 354 cuốn kể cả 30 cuốn mục lục. Thông giám ghi sự kiện lịch sử theo thứ tự thời gian với thư pháp truy thuậtthuật lại và chung ngôn lời sau để nói rõ nguyên nhân hậu quả của các sự kiện. Cách ghi này dễ gây ấn tượng và có hệ thống rõ ràng. Đặc biệt Thông giám có thái độ phê phán mê tín, tôn giáo…đây là tiến bộ quan trọng của tư tưởng sử học Trung Quốc. Tư trị thông giám có ảnh hưởng lớn, thúc đẩy việc viết sử theo kiểu biên niên. Sau này, xuất hiện nhiều tác phẩm cùng loại như Tư trị thông giám Cương mục của Chu Hy Nam Tống. Hồ Tam Tĩnh giữa Tống – Nguyên chú giải Thông giám, còn Vương Phu Chi giữa Minh – Thanh bàn về Thông giám…Đã dẫn đến hình thành cả một hệ thống “ Thông giám học” . Thời Minh – Thanh các bộ sử lớn được biên soạn như Minh sử, Thanh thực lục, Đại Thanh nhất thống trí, Tứ khố toàn thư…các bộ sách trên đều là nhưng di sản văn hóa vô giá của nhân dân Trung Quốc thuật Nghệ thuật Trung Quốc có một lịch sử lâu đời với phong cách dân tộc đậm đà và đạt được những thành tựu huy hoàng. a/ Kiến trúc Trung Quốc còn là một nước có nền kiến trúc phát triển rực rỡ với nhiều công trình kiến trúc độc đáo có tầm cỡ quốc thể chia lịch sử Trung Quốc thành các giai đoạn như Giai đoạn 1 từ 475 TCN- 221 TCN là cao trào kiến trúc lần thứ nhất; công trình tiêu biểu là thành Trường An và Vạn Lý Tường Thành; Giai đoạn 2 từ năm 221 TCN đến năm 907 trong đó thời Tuỳ là đỉnh cao mới của nên kiến trúc Trung Quốc. Ở giai đoạn này, các quy luật kiến trúc đã hình THÀNH TRƯỜNG AN Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 9 thành và ổn định, công trình tiêu biểu là chùa Phật Quang ở Ngũ Đài Sơn, Tháp chùa Giang Thiên trên ngọn Kim Sơn, các thành phố như Lạc Dương, Thành Đô…; Giai đoạn 3 từ năm 907 đến 1368, đặc trưng của giai đoạn này là hình thứ khéo léo tinh vi, nhà cửa, chùa chiên, vườn tược đều được chú ý trang trí cẩn thận, xây dựng công phu, công trình tiêu biểu là điện Mâu Ni Hà Bắc, các tháp Xá Lợi, Tây Hạ Nam Kinh , tháp chùa Thiên Minh Bắc Kinh , tháp Giang Thiên Giang Tô ; giai đoạn 4 từ 1368 đến 1849 là giai đoạn kiến trúc Đương - Tống được nâng lên một mức cao hơn, công trình tiêu biểu là quần thể kiến trúc nổi tiếng Cố Cung, Viên Minh viên. Kiến trúc cổ đại Trung Quốc có đặc điểm là thường dùng vật liệu kết cấu bằng gỗ, bố trí thành quần thể kiến trúc, ở giữa là sân, bốn phía là nhà vây lại, lấy gian nhà làm đơn vị cơ bản. Cung điện, đền chùa, miếu mạo đều xây dựng theo một dạng như vậy, chỉ khác về quy mô, kiểu dáng mà thôi. Gia công nghệ thuật ngay trên cấu kiện của kiến trúc như tạo dáng hình cong với những phù điêu các con vật quý, tạo cho bộ mặt kiến trúc Trung quốc một vẻ độc đáo. Sự bố trí các màu tong một bố cục tương phản tôn tạo lẫn nhau, sự phản ánh đời sống tam linh của người Trung Quốc như lòng tin vào thánh thần, tôn thờ trời đất, thuyết Âm dương ngũ hành… đã ảnh hưởng đến hình thức và nội dung các công trình kiến trúc cổ xưa, tạo nên đặc điểm trong kiến trúc Trung Quốc. Những công trình kiến trúc nổi tiếng CỐ CUNG Thành Lạc Dương cổ Thành Đô Trung Quốc Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 10 - Vạn Lý trường thành là công tình phòng ngự nổi tiến của Trung Quốc chống lại sự xâm lăng của các dân tộc phương Bắc trong suốt 2500 năm. Trường thành dài 6700 km, chạy qua địa phân 6 tỉnh miền Tây, Tây Bắc và Đông Bắc Trung Quốc, được xây tư năm 420 đến năm 221 TCN. Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thuỷ Hoàng đã huy động 30 vạn người nối Trường thành của các nước Yên, Triệu, Tần và sửa sang lại. Các triều đại kế tiếp, triieù nào cũng cho sửa sang lại. Đặc biệt là triều minh đã cho tiến hành tu bổ, gia cố Trường thành trong 100 năm liên tục. Nguyên liệu chủ yếu đẻ xây là gạch vồ, đá tảng. Trường thành gồm 4 bộ phận chủ yếu tường thành, cửa ải, đài thành, phong hoả đài… lại được xây trên địa hình sống núi, có nơi cao tới 1000 mét. Công trình là kết quả của sức lao động của hành triệu người dân Trung Quốc thuộc nhiều thế hệ. Ngày nay, Trường thành là nơi tham quan du lịch nổi tiến của Trung Quốc. - Trường An là thành thị cổ nổi tiếng của Trung Quốc, là nơi đong đô của các triều đại từ Hán đến Tuỳ, Đường kéo dài hơn 1000 năm. Tuỳ Văn Đế xây thêm một toà thành mới là Đại Hưng thành rộng khoảng 84 km, gồm 3 bộ phận Quách Thành, Hoàng Thành và Cung Thành…Đời Đưòng thành được mở rộng thêm, đặc biệt khu Thái Minh cung là một quần thể kiến trúc gồm 30 toà lâu đài, điện đường lớn nhỏ và nhiều vườn hoa tuyệt mĩ. Thời đó Trường An tiếp 43 nước khác đến buôn bán, nhiều du học sinh các nước khác đến đây học tập ngôn ngữ, văn chương, chính trị, giáo lý nhà Phật. Trường An còn là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị… - Tử Cấm Thành là một quần thể kiến trúc có quy mô lớn nhất, có giá trị nghệ thuật cao, được bảo tồn tốt nhất ở Bắc Kinh. Đây là cung điện của 24 dời vua thuộc các triều đại Minh -Thanh từ năm 1421 đến 1911 . Tử Cấm Thành xây dựnh trên khu đát chữ nhật rộng 7200000m, xung quanh có tường cao 10m bao bọc, có hào rộng 52m, ven tường 4 góc có 4 tháp canh, 4 mặt có các cửa Ngọ Môn. Thần Vũ, Đông Hoa, Tây Hoa. Thành được xây từ thời Minh- Vĩnh Lạc thứ 4 1406, gồm hơn 1000 ngôi nhà và cung điện. Điện Thái Hoà là điện lớn nhất, diên tích 3270 m, cao 36m, có con rồng uốn lươn theo các tư thế…Cách xây dựng Tử Cấm Thành tỏ rõ sự sáng tạo tài hoa của nhân dân Trung Quốc. Vạn Lý Trường Thành Tử Cấm Thành [...]... của những phát minh đó đối với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản 11/ Ảnh hưởng của nền văn minh Trung Quốc tới các nước và thế giới Nhóm Glory 17 Lịch sử văn minh thế giới LỜI KẾT Trung Quốc được xem là một trong những quốc gia có nền văn hóa rực rỡ nhất trên thế giới Với một lãnh thổ rộng lớn, vị trí địa lý thuận lợi, dân cư đông đúc và đa dạng các dân tộc, người Trung Quốc đã xây dựng cho mình một nền. .. Trung Quốc đã xây dựng cho mình một nền văn minh lớn với các thành tựu có thể kể đến như là thuốc súng, kim chỉ nam, giấy và nghề làm giấy, nghề in Những thành tựu rực rỡ trên không chỉ cho thấy sức sáng tạo, tài năng , sức mạnh của dân tộc Trung Hoa, đồng thời nó đã trở thành một bộ phậncủa nền văn minh nhân loại Có ảnh hưởng sâu sắc, to lớn đến nền văn minh của các dân tộc khác trên thế giới, đặc... trong việc nghiên cứu về nền văn minh Trung Quốc cổ trung đại nói chung và lịch sử văn minh nói riêng Chúng em hy vọng thông qua bài thảo luận này sẽ có cái nhìn toàn diện hơn và sâu sắc hơn Một nền văn minh rực rỡ và lượng kiến thức thì rất rộng nên trong quá trình làm bài nhóm không thể tránh được những thiếu sót, nên mong cô và các bạn nhận xét và đóng góp ý kiến để bài thảo luận được hoàn chỉnh hơn... đỉnh cao nhất của nền nông học cổ đại Trung Quốc 8/ Bốn phát minh quan trọng Trung Quốc là quê hương của nhiều phát minh kỹ thuật Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XI TCN, kỹ thuật luyện đồng đã được phổ biến và ngày càng phát triển Từ Nhóm Glory 15 Lịch sử văn minh thế giới thế kỷ XI TCN, người Trung Quốc không chỉ nắm được kĩ thuật luyện sắt mà còn tìm ra gang, luyện thép thành công, do đó đã thúc đẩy nhiều... Nhóm Glory 20 Lịch sử văn minh thế giới MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Trang 1 NHỮNG THÀNH TỰU CỦA VĂN MINH TRUNG QUỐC Trang 2 1 Chữ viết Trang 2 2 Văn học Trang 3 a/ Kinh thi Trang 3 b/ Thơ Đường Trang 3 c/ Tiểu thuyết Minh – Thanh Trang 4 3 Sử học Trang 5 4 Nghệ... hiểu cách thiến heo, vỗ béo hay cách nuôi để có thịt ngon, Darwin đã ghi nhận “ heo của Trung Quốc có giá trị trong việc cải tạo giống heo ở châu Âu” Các nước Trung Á, Tây Á và châu Âu đều học hỏi phương pháp chăn nuôi của Trung Quốc Sở dĩ nông nghiệp đặt được những thành tựu lớn như vậy vì từ rất sớm người Trung Quốc đã biết áp dụng các phương pháp bón phân bảo vệ đất, chú trọng yếu tố thời vụ, thổ...Lịch sử văn minh thế giới b/Điêu khắc Nghệ thuật điêu khắc của Trung Quốc đã có từ lâu đời và chiếm địa vị khá đặc biệt trong nền nghệ thuật nước này Cách đây 6000 năm, người Trung quốc dã biíet dùng ngọc để chế thành đố trang sức để đeo trước cổ đây là kĩ thuật ngọc điêu sớm nhất ở trung Quốc cung như trên thế giới Thuật điêu khắc đá thạch điêu... lịch vào năm 1320 Đây là bộ lịch chính xác nhất của Trung Quốc lúc đó Một năm chia ra 365,2425 ngày; so với công lịch công bố năm 1582 thì công lịch ra đời chậm hơn Thụ Thời lịch 300 năm c/ Y dược học Đông y của Trung Quốc ra đời và phát triển trong quá trình thực tiễn và đạt được nhiều thành tựu đáng khâm phục Lí luận về Đông y từ thời Chiến Quốc đã hình thành về cơ bản và được đúc kết trong cuổn Hoàng... khoa toàn thư của Trung quốc cổ đại 6 Địa lý học Tìm hiểu và viết sách địa lý cũng thu gút sự quan tâm của người trung Quốc từ xa xưa Trong lĩnh vực này họ đạt được những thành công đáng ghi nhận Về địa lí tự nhiên tiêu biểu nhất là Sơn Hải kinh viết cuối thời Xuân Thu, gồm 13 cuốn, chia 2 phần Sách này lấy núi sông làm đối tượng nghiên cứu chính, phản ánh quan niệm xưa của người Trung Quốc Cuốn Vũ... thời đế quốc La Mã hơn 300 năm Bùi Tú 224-271, người Nhóm Glory 14 Lịch sử văn minh thế giới nước Tấn được xem là người đầu tiên trong kịch sử Trung Quốc đã giới thiệu phương pháp vẽ bản đồ, đặt nền móng cho khoa học bản đồ Trung Quốc Thời Đường có Giả Đam 730-805, thời tống có Thẩm Quát, các ông đã để lại những tác phẩm quý giá trong lịch sử bản đồ cổ đại 7/ Nông học Nghề trồng trọt ở Trung Quốc . Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 1 Tiểu luận NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC. . tập. Lịch sử văn minh thế giới Nhóm Glory 3 Thư pháp NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC. 1/Chữ viết Cũng giống như các quốc gia khác, - Xem thêm -Xem thêm Tiểu luận NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC doc, Tiểu luận NHỮNG THÀNH TỰU CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC doc,

tiểu luận về nền văn minh trung quốc